NƠI ƯƠNG MẦM ÁNH SÁNG


Nguyễn Viết Cương

Trường Sư phạm ở xã Cộng Hiền năm 1986

                                

Lớp học “sơ tán” rải rác các thôn

Hầm kèo chữ A, lũy đất tránh bom

Bị mưa bão tả tơi, nghiêng ngả

Bột mì luộc “nắp hầm”

                   nuôi trái tim phập phồng tươi đỏ

Vác xe đạp lội bùn năm cây số

Vẫn bâng khuâng ngày khai trường mùa thu…

Ôi mùa thu

Chiều hơi thoảng gió, khói lên mơ

Đường xa thấp thoáng cây thương nhớ

Sông chảy vể đâu nước lững lờ…

Tha thiết xóm làng nghe lắng êm

Tre im nghiêng nghiêng vương hơi sương

Có ai chờ đợi mảnh trăng lên

Sao ta bâng khuâng mong người thương…

Cứ mỗi độ thu về, rạo rực

Tình quê hương, tình của muôn phương

Những dáng thân yêu, những hình quen thuộc

Cả những gì chưa biết cũng vương vương!

Rồi sáng, chiều lên lớp

Đêm khuya thức soạn bài

Những con đường thân thiết

Ân hiện bóng hình ai…

Đứng gió

Chiều buông

Cây im

Bên đường

Thiếu nữ

Bâng khuâng…

Trường Sư phạm 10+3

                             ra đời trong đạn lửa

“Chiến dịch sấm rền” B52 gầm rú

Tiếng giảng bài vẫn dìu dặt…

                             tiếng hát vẫn trong veo…

Hòa bình, về Kiến An…

                             hát reo mừng chiến thắng…

Trường lên Cao đẳng, chói sáng niềm tin

Lao vào học thuật, đọc sách thâu đêm

Đâu biết khó khăn ngày càng chồng chất

Rồi đến lúc “áo cơm ghì sát đất”*

Phải xoay xở đủ nghề kiếm việc làm thêm…

Vừa dạy học về, quăng vội sách

Cởi ngay quần áo, lội ao luôn

Băm bèo, thái rau, mặt cắm xuống

Xách nước rửa chuồng, mồ hôi tuôn

Đêm đông gió rít, ngồi đun cám

Ngày thu mưa lụt, ra sửa chuồng

Lúc gạo cám hết, chạy cuống quít…

Khi lợn chê ăn, lo cuống cuồng…

Lợn béo lên cân, người sọm lại

Chữ nghĩa quên dần, ngày tháng buồn…

Nhưng rồi “đổi mới”

Ngọn gió lành phơi phới sức xuân

Xua dần tan u ám bần hàn

Đưa đất nước sang một trang sử mới

Nâng giáo dục lên tầm cao chói lọi…

Và Trường Cao đẳng Sư phạm Hải Phòng

                                                cũng từng bước thăng hoa…

Mấy chục năm đã qua

Biết bao buồn vui

                             bao thăng trầm

                                                thay đổi…

Biết bao lớp người thay nhau tiếp nối

Giữ gìn ngọn lửa thiêng liêng

Ngọn lửa nhen lên từ trái tim

Bật sáng từ khối óc

Tỏa ra từ những tấm lòng…

Ôi ngọn lửa hồng

Thành muôn ngàn mầm ánh sáng

Trong tâm hồn lớp lớp thế hệ thanh xuân

Những thế hệ mang ánh sáng của trí tuệ – lương tâm

Từ ngôi trường này đến khắp mọi nơi tỏa sáng!

Viết xong ngày 6-3-1999

TÂM HUYẾT VỚI SỰ NGHIỆP ” TRỒNG NGƯỜI “


Đào Ngọc Đệ

Nhà giáo Nguyễn Trọng Lô là một trong những người có công lớn trong quá trình xây dựng và phát triển ngành Giáo dục của thành phố, đặc biệt là với trường Cao đẳng Sư phạm Hải Phòng.

Tháng 9-1962, thầy được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường Sư phạm cấp 2 tĩnh Kiến An từ ngày đâu thành lập. Cuối 1963, Hải Phòng và Kiến An hợp nhất, thầy làm hiệu phó trường Sư phạm trung cấp Hải Phòng – tiên thân của trường Cao đẳng Sư phạm ngày nay. Cuối 1975, sau khi hoàn thành nhiệm vụ tại nước bạn Lào, thầy lại vê làm hiệu trưởng trường Sư phạm 10+3. Sau chiến tranh chống Mỹ, thành phố còn nhiêu khó khăn, cơ sở vật chất của trường vô cùng thiếu thốn, nhà cửa hầu hết là tranh tre, nứa lá, phải làm sao đây từ tay không mà xây dựng cơ đô ? Thầy đã cùng đảng ủy, ban giám hiệu, hội đông giáo viên và tập thể giáo sinh chăm lo xây dựng trường, làm mới nhiêu nhà gạch, thúc đẩy hoạt động dạy – học và các phong trào vãn nghệ – TDTT, xây dựng ký túc xá của trường với trên 1.000 giáo sinh có hên nếp học tập, tu dưỡng và sinh hoạt tốt. Hai ĩân làm hiệu trưởng trường Cao đẳng Sư phạm, thầy Nguyễn Trọng Lô đã tập trung tâm trí xây dựng trường, tạo nên một “bộ máy cái” vững mạnh để đào tạo đội ngũ giáo viên cấp 2 “hồng thắm, chuyên sâu” nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục của thánh phố. Nhiêu giáo sinh của trường, nay đã trở thành những cán bộ quản lý giáo dục giỏi, những giáo viên có năng lực và giàu lòng yêu nghê. Sự trưởng thành của họ, có một phần đóng góp không nhỏ của thầy. Khao khát cháy bỏng của nhà giáo Nguyễn Trọng Lô là góp phần vào công cuộc chấn hưng dân trí, để thế hệ trẻ ngày càng thông minh hơn, khỏe khoắn hơn, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Với khát vọng đó, anh thanh niên Nguyễn Trọng Lô vào ngành giáo dục từ rất sớm.

Tốt nghiệp trường Sư phạm Liên khu 3, tháng 10-1952, thầy giáo Nguyễn Trọng Lô mới 19 tuổi, vê công tác ở Khu giáo dục Tả Ngạn. Từ đây, thầy là ngươi duy nhất được cử đi xây dựng trường cấp 2 tỉnh Kiến An; và cũng từ đây, bắt đâu sự nghiệp “trông người” của một nhà giáo giầu tâm huyết với nghê.

Trường cấp 2 Kiến An, sau đó là trường cấp 2 Vĩnh Bảo ỏ vùng địch hậu, không có trường lớp, không có bàn ghế, hiệu trưởng và giáo viên chỉ có một mình thầy. Mỗi học sinh có một bộ bàn ghế kiểu “kẹo kéo”. Phòng học và giờ học phải thay đổi luôn, khi học ban ngày, khi học ban đêm, vì máy bay giặc Pháp thường bỏ bom và bọn địch ở các bốt Nam Am, Tây Am thường bắn phá, càn quét vào các xã xung quanh. Có lân, địch bỏ bom xuống nhà thờ Dương Am và khu phụ cận, làm chết hàng trăm người, thầy trò phải đến cấp cứu, lấy xác người đi chôn. Trong hoàn cảnh đó, thầy vẫn gắn bó với trò, như anh em trong một gia đình hòa thuận.

Kết thúc khóa học đâu tiên của trường cấp 2 Vĩnh Bảo, thầy được cử đi học ĐPISP Hà Nội. Được giữ lại trường nhưng nặng tình, nặng nghĩa với mảnh đất đã nuôi dưỡng và giúp mình trưởng thành, thầy lại xin ve Kiến An. Thầy được giao trách nhiệm xây dựng trường phổ thông cấp 2-3 đâu tiên của tỉnh. Từ tháng 9-1960, tách riêng thành trường cấp 3, thầy làm hiệu trưởng kiêm bí thư chi bộ, dạy vãn và chính trị, trực tiếp làm giáo viên chủ nhiệm một lớp. Thầy dành một phần tỉên lương giúp đỡ một số học sinh có hoàn cảnh khó khăn, tâm huyết với nghê, thương yêu đông nghiệp và học sinh, với nếp sống giản dị, khiêm nhường, thầy đã xây dựng trường cấp 3 tỉnh Kiến An phát triển toàn diện, góp phần đào tạo nhiên cán bộ giỏi cho tỉnh, cho thành phố Hải Phòng và cho đất nước.

Là một nhà giáo giàu kinh nghiệm, có năng lực tổ chức và quản lý, thầy giáo Nguyễn .Trọng Lô đã 11 năm làm chuyên gia giáo dục tại Lào trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, từ cuối 1964 đến 1975. Thầy giúp bạn xây dựng trường Sư phạm ở Luăng Prabăng thuộc bắc Lào, rồi ve bộ phận giúp Trung ương Mặt trân lào yêu nước ở Sam Nưa. Thầy phụ trách tổ biên soạn sách giáo khoa các bộ môn khoa học xã hội cho các trường phổ thông của Lào và trực tiếp biên soạn sách giáo khoa ngữ – vãn cho các trường cấp I, cấp 2, sách “Đạo đức” cho cấp I và “Lịch sử Lào” dạy ở cấp 2. Các cuốn sách đó, viết bằng tiếng Lào, được đông chí Phu-mi Vông-vi-chít – một lãnh tụ của Lào duyệt, cho in và phát hành trên toàn nước Lào.

Mười sáu năm làm giám đốc Sở Giáo dục – Đào tạo Hải Phòng, nhiêu năm là ủy viên thường vụ Thành ủy, ủy viên UBND, đại biểu HĐN,D thành phố và trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy, thầy vẫn dành nhiêu tâm trí cho công cuộc đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển sự nghiệp giáo dục của thành phố. Tác phong sâu sát, đức tính hiên hòa, khả năng tổ chức và biết dùng người, sống ân tình thủy chung, là phẩm chất cao đẹp nổi bật của thầy giáo Nguyễn Trọng Lô. Thầy đã được tặng thưởng huân chương “Tự do” hạng nhất của Lào, huân chương “Kháng chiến” (chống Pháp) hạng 2, huân chương “Chống Mỹ, cứu nước” hạng nhất, huân chương “Lao động” hạng 3 và danh hiệu “Nhà giáo ưu tú”.

41 năm dạy học và làm công tác quản lý giáo dục, nhà giáo Nguyên Trọng Lô luôn luôn tâm niệm: mong muốn nối nghiệp cha, phát huy truýên thống cách mạng của gia đình, giáo dục thế hê trẻ trở thành những người có học vấn, có đạo đức để xây dựng đất nước và thành phố to đẹp, đàng hoàng. Muốn vậy, trường học, nhất là trường sư phạm phải nâng cao chất lượng, giảng dạy vãn hóa và đạo đức, giáo dục học sinh giữ gìn và phát huy những truýên thống tốt đẹp của dân tộc và không ngừng đổi mới, để tiếp cận nen vãn minh nhân loại.

Sau 41 năm cống hiến cho sự nghiệp trồng người, bây giờ, thầy Nguyên Trọng Lô vẫn sống bình dị trong ngôi nhà nhỏ có phần tĩnh lặng ở phố Hô Xuân Hương. Vê hưu, thầy vẫn quan tâm tới sự đổi mới của ngành Giáo dục thành phố, vân gắn bó với anh chị em trong cơ quan và các học sinh cũ. Đó là hạnh phúc của thầy.

KHÔNG CHỈ LÀ HOA


Nguyễn Viết Cương ( Nguyên Phó Hiệu trưởng Trường ĐHSP Hải Phòng )

Nếu chỉ là hoa

Mà không thành quả

Thì rồi ngày qua

Đời hoa héo úa.

Màu hoa đỏ tươi

Màu hoa trắng mát

Sẽ thành xám ngắt

Khi hoa qua đời.

Hoa rơi xuống đất

Đất không thêm mật

Nát dưới dấu giày

Nào người có hay!

Hãy thành quả chín

Thân mình ngọt lịm

Dâng hiến cho đời

Hỡi hoa trìu mến!

Nếu người có quên

Quả rơi xuống đất

Đất dâng chất mật

Cây sẽ mọc lên

Đời nhiêu quả thêm.

Tuổi trẻ chúng ta

Không chỉ là hoa

Xin còn là quả Tiếng đời thiết tha!

HƯƠNG BỒ KẾT


Đỗ Trung Minh (Nguyên Trưởng Phòng Chính trị-Tổng hợp Trường ĐH Hải Phòng)

Sao không cho gặp lại

Hương bồ kết ban đầu

Đã đành, không thể nữa

Có yên lòng nơi đâu

Có lần ta gặp nhau

Sau giờ em lên lớp

Bụi phấn vương trên vai

Mớ rau chiều đẫm nước

Có lần ta gặp nhau

Để qua đâu mắt ướt

Để lại từ phía em

Phảng buồn hương bồ kết

Thời gian ơi thời gian

Vì sao không thể được

Gìn giữ lại cho ta

Chút hương quê … trôi mất.

Xóm Giáo


                                                                    Đỗ Trung Minh (Phong Thanh)

Một buổi sáng cuối thu (những năm 70-80 của Thế kỉ trước), trời mưa phùn và gió heo may, có đến dăm chục người đi thành từng tốp từ trong Khúc Trì ra. Đó là các thầy cô giáo của mấy trường sư phạm. Hôm nay có buổi họp chuẩn bị cho kỉ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam. Da ai cũng xam xám, vàng vàng và dáng người thì “eo ót” như người mẫu thời trang…, những dấu hiệu của sự thiếu dinh dưỡng. Nhưng người nào trang phục cũng tề chỉnh. Nam thì sơ vin áo khoác mỏng, nữ thì áo len các màu và quần phíp đen, nhiều người diện bộ quân phục Tô Châu, mũ cối mới cáu cạnh. Đây là bộ cánh “bậc nhì” của giáo viên hồi đó. Bậc nhất là bộ comple, áo dài chỉ được mặc năm vài lần vào đại lễ, còn thì cất kĩ trong hòm, khóa chặt, giữ như một thứ gia bảo. Chúng ta đều biết, các nhà giáo sư phạm đều tự  ý thức rằng  trước hết phải giữ phong cách, đức độ, “đói cho sạch rách cho thơm”. Đã ra khỏi cửa là y phục phải tươm tất. Người ta kể, có thầy đứt bữa sáng vẫn ngậm cái tăm vào miệng để giữ thể diện. Sau này có lời chào buổi sáng “Hôm nay lại ngậm tăm à”, là sự sẻ chia thầm lặng của “Giáo dân”. Các thầy thì thầm với nhau: “Hôm nay mưa tôi không dám đi giầy vì tìm mãi không thấy cái túi nilon để bọc”; “Cái pôn- giốt (đồng hồ Liên Xô) của của thầy nên bọc miếng vải kẻo ngấm mưa hỏng mặt số”; “Xe đạp thầy đã kê gạch dưới lốp chưa. Mưa ẩm thế này sợ mủn”… Và trên con đường mấp mô nhiều vũng nước, ai cũng xắn quần móng lợn vì sợ vấy bùn. Đó là những “giáo dân” chuẩn không cần chỉnh của “Xóm Giáo” Kiến An.

Đúng ra, phải gọi là Xóm Giáo viên. Chứ gọi tắt là Xóm Giáo như thế dễ hiểu lầm với khu dân cư của một đạo giáo nào đó. Nhưng ở đời, người ta cứ hay tắt téo. Đi cũng muốn đi lối tắt, cho gần; làm cũng hay làm tắt, cho nhanh; viết cũng thích viết tắt đến mức, viết xong chính mình cũng không đọc được, và thôi, “nói ngắn cho nó vuông” rồi chả hiểu mình vừa nói gì nữa …Nhưng bên cạnh cái dở cũng có cái tiện. Vậy thôi, cứ cho gọi “ Xóm Giáo” nhé. Và giáo viên ngụ cư ở đó cũng xin gọi là “Giáo dân” luôn.

 Hàng trăm “giáo dân”, kể cả người viết những dòng này, đã sống qua một thời (những năm 70-90 của Thế kỉ XX) mà bây giờ kể lại thật khó tin. Nhưng cam đoan những chuyện này là có thật, chỉ có tên các thầy cô được viết nhái đi một chút để nếu ai “khó ở” có đọc lại, khỏi mang tiếng “biết rồi, khổ lắm nói mãi”.

 Chỉ là mấy chuyện nhớ lại để bồi hồi.

Xóm Giáo ấy là khu tập thể Khúc Trì, gần sát Trường Sư phạm 10+3 Hải Phòng, trên đất Kiến An, bây giờ là Trường Đại học Hải Phòng. Khoảng từ năm 1972 đến 1975, Thành phố Hải Phòng có chủ trương xây dựng một số khu nhà ở tập thể cho cán bộ công nhân viên, học sinh chuyên nghiệp. Khối Sư phạm có đến ba bốn  khu tập thể. Đó là Tập thể trong trường Sư phạm Mầm non ở xã Trường Sơn, An Lão, gần ngã ba An Tràng. Trong khuôn viên Trường 10+2 (Trung học Sư phạm) cũng có mấy dãy nhà. Ở làng Khúc Trì, khối 10+2  (Trung học Sư phạm) và 10+3 (Cao đẳng Sư Phạm ) có hai khu tập thể. Khu tập thể Bờ Ao nhỏ, chỉ có bốn năm dẫy nhà, nhưng gần sát Trường, đêm đêm nghe được tiếng còi ô tô chạy trên đoạn đường 10 lồi lõm và bụi bặm trước cổng trường. Hồi ấy được nghe thấy tiếng còi ô tô là một thứ hãnh diện của người ở “ phố”.  Khu tập thể Khúc Trì lớn hơn, có đến hai mươi dãy nhà cấp 4, nằm sâu trong làng xen kẽ với nhà dân và với chuỗi ao vũng to nhỏ, tù túng, đen đúa, và không nghe được còi ô tô!  Mỗi dãy nhà có 10 căn hộ “ khép kín”, nghĩa là có gian ở, ngăn làm bếp, ngăn xí xổm và lối đi hẹp đủ giăng một sợi dây phơi. Tất cả đều dưới cấp 4.

Ban đầu khu này chủ yếu dành cho giáo sinh Sư phạm hệ chính quy. Có lúc lượng giáo sinh lên đến hai nghìn người, nhiều em ở tỉnh ngoài hoặc ở đảo Cát Bà, ở vùng núi Thủy Nguyên, vùng thuốc lào Vĩnh Bảo… các xứ Siberi của Hải Phòng. Số giáo sinh cuối cùng ở đây là các lớp chuyên tu (Giáo viên cấp hai có bằng Sư phạm “bẩy cộng” phải học hệ chuyên tu để lấy bằng Sư phạm 10+3 hoặc Cao đẳng Sư phạm, Trung cấp Sư phạm). Khi số lượng các thầy cô giáo tăng lên, một số giáo viên trẻ lập gia đình, nhu cầu nhà ở cấp bách, Khúc Trì trở thành khu tập thể gia đình các nhà giáo của trường Trung cấp Sư phạm, Cao đẳng Sư phạm, trường Cấp 3 Kiến An. Nói thật, thời bấy giờ, được phân gian nhà tập thể để ở là mãn nguyện rồi. Mấy ai dám nghĩ đến xây nhà riêng đâu. Mà phải đủ “điểm” mới được “ phân” nhé!.

Nhưng, trăng đã bắt đầu lên rồi kìa. Hôm nay Thầy Trì có ấm trà ngon. Uống một mình thì trái đạo “trà tam tửu tứ”.  Đã thành lệ, rải chiếu xong, Thầy Trì khum hai bàn tay làm loa: “Trà Thái sao tay chính hãng  đơ..ơ..ây”, có nghĩa là mời các thầy, đã tới giờ thưởng trà. Thường thì các câu chuyện của “giáo dân” bắt đầu râm ran từ đó.

Tối nay có trăng, có trà ngon, lại mới vào đầu năm học, lại có chuyên đề “Học sinh, Sinh viên – nhân vật trung tâm của nhà trường”, lẽ ra không khí Xóm giáo “xôm tụ” mới phải. Nhưng hình như ai nấy đều có vẻ đăm chiêu. Thầy Đĩnh nói:

  • Nhà Hà có vẻ gay đấy, bệnh tình cô Toàn có vẻ nặng ra.
  • Hôm rồi, Toàn đi khám lại, có hy vọng gì không?

Một tiếng thở dài. Cô Toàn là giáo viên Trường Thực hành Sư phạm, mới đạt danh hiệu Giáo viên Giỏi toàn quốc. Thế mà bỗng trở bệnh, không thể đi lại được. Hai chân cứ mềm dần, rồi không đi được nữa. Cô phải nghỉ dạy ngay khi đạt đến đỉnh cao về chuyên môn.

  • Ta đi sang tí đi. – Thầy Thủy đề nghị.

Mọi người bỏ ấm trà còn nóng giẫy trên cái chiếu đã giãn mành, uể oải sang căn hộ đầu dãy K4. Hôm nay có điện, nhưng bóng điện chỉ đỏ như đèn dầu. Ánh sáng không đủ rõ hình hài cô giáo trẻ trên chiếc giường sắt đã bắt gỉ. Gương mặt xinh xắn trắng nhợt. Đôi mắt to đen mệt mỏi lờ đờ. Toàn khẽ cười để chào mọi người. Không ai ngờ đó là buổi gặp Toàn cuối cùng.

Có lẽ Xóm giáo cũng giống nhiều khu tập thể khác, nhà xây cấp bốn, nhưng chất lượng quá kém. Mái lợp ngói xi măng, ngói đất, trồi sụt, võng xuống từng vạt. Hồi ấy “giáo dân” có sáng kiến ken dưới các viên ngói cong vỡ bằng các mảnh ni lon tận dụng từ các tấm vải mưa “quá đát”.  Rui, kèo không phải bằng gỗ, mà bằng sắt tận dụng, hàn chéo với nhau, phần lớn cong queo dưới sức nặng của ngói. Tường trát bằng cát mặn, phồng rộp lở lói trông như tấm bản đồ thế giới vẽ vụng, quanh năm ẩm mốc, rêu xanh như treo thảm Thổ Nhĩ Kì. Trời nắng cũng dột. Còn khi mưa, tất cả xoong, nồi, chậu, thùng được huy động đặt dưới các dòng nước xối từ trên mái xuống lòng nhà. Giường kê thêm gạch, chăn chiếu cũng “khoác” áo mưa. Các nhà giáo, đương nhiên là mặc áo mưa để điều khiển hệ thống thau chậu đã đầy nước. Giữ được đồ không ướt thì người như chuột lột. Đợt ấy, mưa kéo dài cả tuần. Nước sông Lạch Tray dâng lên. Cả khu vực lõng bõng trong nước. Củi đóm ướt sũng. Các bếp lò than chỉ thấy khói, lửa không bén lên được. Chợt có tiếng rao: “Ai bánh mì nóng giòn đây!”. Mọi người đổ ra cửa. Cô Mi, cô Lợi gọi với theo “bánh mì ơi…”, rồi bỗng cười phá lên “Ôi giời! Ông lỡm ạ”. Hóa ra là thầy Mĩ dạy văn. Thầy khoác áo mưa, lội bì bõm dọc hè dãy K5, rao bán bánh trêu mọi người giữa “cơn bĩ cực”. Chính thầy đội mưa đi mua thức ăn cho con, cũng không được. Vừa bực, vừa không nhịn được cười.

Thời kỳ này, Xóm giáo bí nhất là điện và nước. Buổi tối soạn giáo án, cạnh ngọn điện đỏ lòm như tàn đóm, còn phải hỗ trợ bằng cái đèn dầu. Nhiều nhà “hoàn cảnh”, phải dùng đèn dầu ma dút, cứ thắp lửa là khói nghi ngút, sáng dậy mặt đen nhẻm như anh hề. Nhân viên chi nhánh điện đi thu tiền còn hỏi mượn cái đèn pin vì tối quá, nhìn hóa đơn không rõ (!).

Nước máy chảy rỏ từng giọt, thánh thót nghe như tiếng đàn piano suốt đêm. Mất rất nhiều thì giờ vào việc lấy một xô nước. Một số dãy nhà có sáng kiến đào một cái giếng tích nước cho bà con buổi sáng lấy nước đỡ chờ. Thầy Nhì bảo: “Ở ngã 5, tôi thấy một số ống buy bê tồng vứt chỏng chơ, rêu đã bám xanh, nếu xin vài đoạn về làm giếng thì tốt”; “Hay ta làm cái đơn”; “Ôi giời, đơn thì từ, đây cần ngay văn luôn”; “Hay đấy, tiến hành thôi”, mọi người ủng hộ. Thế là hơn hai chục “chủ các hộ”, áo vắt vai, hướng ngã năm đi thành nhóm, như đi chơi trăng. Họ vừa đi vừa trao đổi chuyên đề: “Sơ đồ hóa trong tiết giảng văn”. Lại một đêm trăng không sáng quá, cũng không tối quá, trời thanh, gió mát, các ống buy bị lãng quên được lăn về Xóm giáo. Kĩ thuật xây trát đã có chú Tĩnh nhà cô Lợi. Tuần sau, giếng nước trong vắt đã soi bóng các cô mỗi ngày. Tức cảnh sinh tình, thầy Mĩ ngâm nga:

Một mảnh trời riêng cho Kiến An.

Núi soi bóng giếng hóa Thiên Văn.

Mảnh trăng nghiêng xuống vàng Xóm giáo.

Nhớ ai mặt nước sóng lăn tăn…

Kể cũng hơi “tụng ca”, nhưng ăn nước giếng này, khối đứa trẻ thời ấy giờ đã Tiến sĩ, Phó giáo sư, trưởng phó khoa này khoa nọ của Đại học Hải Phòng hiện nay, nhiều lãnh đạo các phòng ban cấp Sở, huyện, hay Hiệu trưởng các trường phổ thông. Chẳng hạn như cháu Thu Hà, cháu Thanh Quynh, cháu Phương Thể , cháu Thanh Phương, cháu Đức Tuân …

Nói thêm rằng, trong những năm này, để đảm bảo một cuộc sống đạm bạc tối thiểu, để giữ và phát triển chuyên môn “trồng người”, giáo giới nhiều nơi làm thêm rất nhiều nghề. Các nhà giáo thời ấy tuy chỉ là “viên chức hạng…lục (6 )”, nhưng vốn thông minh, tháo vát, được đào tạo tử tế, nên nghề nào cũng làm và tưởng làm được. Điểm ngay trong Xóm giáo: máy khâu hiệu “hai con bướm” chạy xòe xòe suốt đêm. Ấy là may quần đùi nam gia công! Đứng đầu là nhà các thầy cô Hiên Tân, Thúy Phục. Họ trở thành các “nhà điều phối và KCS”, bây giờ gọi là “cai”. Nhà nào có máy khâu là đời sống cải thiện rõ. Nghề… chăn nuôi ở Khúc Trì cũng phong phú. Nuôi gà, vịt, thỏ, chó Nhật…đến cả gấu nữa. Nhà nào cũng có đôi ba “ông lớn”, tức nuôi lợn. Đó là nói đùa thôi, nhưng ngẫm đến cùng, cũng có lí. Này nhé: các thầy cô thường tự nguyện bớt khẩu phần để chăm sóc lợn; ngăn bớt bếp, thu hẹp sân để nới rộng chuồng. Mùa rét cắt da, vẫn hăng hái lội sông Đa Độ ven Núi Vọ để lấy rong le, vui như trẩy hội. Nấu cám cho lợn trước khi nấu cơm. Mưa lụt thì tháo dát giường kê cao chỗ nằm cho lợn, còn người thì… “đứng cũng được mà!”. Và khi lợn “có vẻ hu hi” chớm bỏ ăn thì buồn như nhà có đám. Thầy Dự tếu táo kể: “…Vừa qua có cuộc thi Giáo viên giỏi quốc tế ở Malai. Đoàn giáo viên ta đang dự thi bỗng một cô bỏ cuộc. Đoàn trưởng đến thấy cô ngồi khóc. Cô mếu máo: nhà em điện sang báo cả hai con lợn đều ốm, hu… hu, cả gia tài nhà em đấy, hu hu… Thế hôm trước chú ấy điện sang báo con cô sốt cao, có thấy cô khóc đâu? Đoàn trưởng hỏi. Không một tiếng cười dù đó là chuyện pha trò. Không khí chùng hẳn xuống.

Nói đi thì thế, nói lại thì nuôi lợn cũng là nguồn thu nhập đáng kể đấy chứ. Nhà anh Lương nấu rượu để lấy bỗng cho lợn ăn, lời lãi bao nhiêu không biết, chỉ thấy con lợn nào cũng béo hồng, tăng trọng mỗi tháng gần hai chục ký. Vừa bán lứa lợn, Lương tậu cái tivi Soni đen trắng.  Oách nhất xóm chưa! Nhà thầy Vần bán lợn mua ngay cái tủ lim lát hai buồng, bóng nhoáng. Cứ lúc nào đi dạy về là thầy Vần cầm chiếc khăn mặt lau lau chùi chùi. Phải nói cái anh gỗ lát, lau nhiều lên nước, vân gỗ đẹp không thể chê được. Vợ chồng Thái còn trẻ mà tay nuôi lợn khá đáo để. Tiền bán lứa lợn tháng trước, thêm vào, mua được chiếc xe đạp khung dựng. Còn phải nói, chăm xe hơn chăm con. Tối tối, vợ chồng bảo nhau lấy móc treo xe lên, không nó tiếp đất ẩm, hại lốp! Thầy Thư khuyên: nên có một cái màn nữa, muỗi đốt dễ hại săm lắm!

Còn một số nghề phụ khác nữa, như làm đầu sư tử bán cho trẻ dịp Trung thu, làm pháo bán Tết, sửa chữa đồ điện tử, xe đạp… Thầy Thặng nguyên giáo viên thể chất, nguyên Chủ tịch Công đoàn Trường nhận chữa cả tivi. To gan! Hồi ấy chỉ có tivi đen trắng, nhập về chủ yếu từ Đông Âu, cái nào cũng to như chuồng chim bồ câu, chạy bằng hệ thống bán dẫn và bóng điện tử to bằng nắm tay. Chữa không được, thầy Thặng cười hề hề, “thôi thì mang về nuôi chim. Bóng già cháy hết cả”. Thầy Thặng đẹp trai và rất lành. Ai nỡ bắt đền. Tiếc rằng thầy quy sớm quá. Sự ra đi của mỗi nhà giáo trong Trường như thế thường làm cả Xóm giáo ảm đạm hàng tháng trời. Nhưng thôi, kể làm gì. Chắc gì người ta đã tin. Có điều chắc chắn là, các thầy, cô không ai làm việc gì tổn hại đến danh dự chung, riêng. Nghề giáo nó thế. Còn phải đứng đàng hoàng trên bục giảng chứ.

Hổi đó, ai chả thuộc câu: “Muỗi Khúc Trì, mì Sư phạm”. Ở nơi ẩm thấp thế này, muỗi to như ruồi là tất yếu. Muỗi đốt đau không kém gì ong, cũng là tất yếu. Vì nếu muỗi không cố đốt đau thì lấy đâu ra máu. Đã có người xì xèo: dân Sư phạm là “dân không có máu mặt” mà lại. Còn “mì Sư phạm” cũng nổi tiếng giống như câu “ăn sư, ở phạm”. Thời cơ chế bao cấp, người ta nói giáo viên không phải cán bộ công chức, nên không được phân phối hàng tiêu dùng. Nhà trường không phải “cơ quan đơn vị” theo quy định, nên không có tiêu chuẩn phân hàng (!). Thế đấy. Bột mì và hạt mạch là thứ ăn độn thay một phần gạo, khi đến được bếp nhà các thầy cô Sư phạm thì không còn trắng nữa, không còn thơm nữa. Thậm chí có cả mọt bò lấm tấm như rắc vừng đen. Chuyện kể bây giờ thật khó tin.

Tối hôm qua, anh Lương chiêu đãi xóm buổi xem tivi. Cả khu hàng nghìn người mới có một vài tivi đen trắng. Người đến xem đông như đi xem phim bãi. Có người đến từ chiều giữ chỗ, kể cả khi nhà chủ chưa ăn tối. Khán giả cứ đông dần. Mỗi người đến mang theo một viên gạch vỡ kê ngồi.

Chủ nhà bê ra cái bàn, rồi sau đó bê cái tivi được phủ kĩ bằng nửa cái chăn chiên, sợ vỏ nó xước; cái cục sắt vuông vuông, gọi là su-vôn-tơ kích tăng điện, rồi kết nối anten. Điều chỉnh hướng anten là khâu quan trọng nhất và nhọc nhằn nhất. Lương cứ ôm cái cây tre cao vỏng ngất nghểu, trên gắn dàn anten chế tác bằng vành xe đạp, xoay qua xoay lại. Màn hình tivi hiện lên những vệt loằng ngoằng, loa sôi rào rào. Mọi người nín thở. Sau cùng, sự kiên trì đã thắng. Khán giả trật tự đến phút cuối, mười giờ đêm, không bỏ sót nội dung nào. Phim và kịch hay, đoạn xúc động có tiếng thút thít khóc. Đến khi ông chủ cất giọng khàn khàn: hôm nay “coi như là” xem thế thôi, anh chị em mai “coi như là” còn đi làm. Tuần sau “coi như là” ta lại gặp nhau ở đây nhá (vì thế người ta gọi Lương là anh “coi như là”), mọi người lả tả về. Lúc ấy, vợ chổng Lương mới bắt đầu công đoạn dọn bãi, lụi cụi dọn gạch, giấy vụn, rác, mất cả tiếng đồng hồ. Vì phục vụ vất vả quá nên mỗi tuần, Lương chỉ dám chiêu đãi một buổi tối thế thôi, và chọn hôm nào có phim, kịch cải lương để mở. Nghe đâu sau này tôn cao sân nền nhà, Lương không phải mua thêm gạch đá nữa.

Trong những năm khó khăn này, cuộc sống chật vật với những xoay xở toan lo, chi chút. Thế mà chắt bóp sắm được một tí, thì lại sợ mất trộm. Nhà thầy Tiễn mất liền hai cái xe đạp ngay chập tối. Cả xóm tỏa đi tìm hộ. Tối quá, địa hình lại nham nhở những vũng lầy, mô đất. A đây rồi! Một tiếng reo. Thì ra một chiếc xe Tiễn vẫn dùng chở con đi học bị bục cả lốp lẫn săm, trộm cũng chịu không đạp được, bỏ lại. Còn ai lạ gì lúc bấy giờ, xe đạp phần lớn là xe “cố vấn”. Nghĩa là, săm lốp quá cũ mà không thể mua đồ thay, người ta sáng kiến lấy dây thun chằng, bó “cố vấn” cho nó khỏi lòi săm chỗ này chỗ kia như quả ổi, đi tạm. Cũng hay ra phết, đi xe đạp mà như cưỡi ngựa, vì nó cứ nhảy cồng cộc.

Để bà con yên tâm, Xóm giáo liền thành lập các nhóm an ninh trật tự. Tối tối các thầy đi tuần, quần đùi áo cộc, chuyện vang như sấm rền, lại có thêm dịp trao đổi chuyên môn, học thuật và nói chuyện trên trời, bây giờ lớp trẻ gọi là “chém gió”.

Có thông tin, ngày mai xí nghiệp gỗ Trương Công Định (đầu ngõ Khúc Trì) bán mùn. Mùn là chất đốt “cao cấp” thời đó. Người đi mua mùn phải xếp hàng như mua thịt. Họ tìm cách độ các bao tải  đựng mùn như kiểu bây giờ người ta độ thùng xe tải, để đựng được nhiều nhất. Xôn xao cả tối. Nhưng hóa ra là tin vịt, mọi người ngẩn ngơ mang bao về. Bỗng có tiếng gọi giật: “Thầy Đào, ông Đào ơi, dừng lại tôi bảo đã”. Người “Quản mùn” ( giữ kho mùn) nhận ra thầy Đào là đồng hương, nhưng quan trọng hơn, Thầy Đào là người viết báo, nhiều người biết tiếng “Nhà báo Ngọc Đào”. Thời ấy trường ta còn có nhiều người khác thành danh trên “văn trường” như Phạm Nga; Văn Khuê, Văn Thuẫn, Vũ Lệnh, Hà Thúc, Hà Giảng…Anh quản mùn thì thầm: “Đằng kia có ít mùn hơi ướt, thầy cô đến xới lên bỏ bao ra em cân cho. Đừng nói với ai nhá. Gớm, bài anh tối qua đọc trên đài nghe sướng. Chốc em cân trừ nước cho”. Vợ chồng thầy Đào ra sức đào bới đống mùn ướt nhão. Bỗng cô Thu kêu “á”; ôi trời, bới phải cái đinh, máu nhòe hồng trên đám mùn ướt nhão. 

Sắp đến “Ngày Nhà giáo”, Xóm giáo lại sôi lên sùng sục. Các “giáo dân” thực hiện kế hoạch của từng trường, đặc biệt là tập văn nghệ. Các thầy cô hát hay đáo để. Thầy Đĩnh cầm càng cho đội văn nghệ Trường 10+2. Hôm nay tập bài Trường Sư phạm của thầy Hà Giảng. Thầy Hà Giảng là giáo viên dạy nhạc, nhưng sáng tác chả kém gì nhạc sĩ chuyên nghiệp. Tuổi cao sức yếu, thầy đã phải lên bàn mổ đến sáu bảy  lần, mà vẫn ôm cây phong cầm (ắc cooc đê ông) dạy hát và biểu diễn. Bây giờ ở phòng truyền thống của trường vẫn còn cây phong cầm màu đỏ, có dòng chữ: “Với cây đàn này, thầy Giảng đã đào tạo hàng ngàn giáo sinh Sư phạm và sáng tác hàng chục bài hát, trong đó có bài được coi như bài hát truyền thống của các trường Sư phạm”.

“Nào, chúng ta hát lại một lần nữa nhé, ba, hai, một…” Thầy Đĩnh bắt nhịp: “Những tiếng hát vút lên từ mái trường Sư phạm, là bài ca trong sáng yêu tha thiết tương lai. Cùng vì một ngày mai dắt đàn em tới chân trời mới… chân trời mới…”. Tiếng hát xao xuyến trong gió đêm cuối thu chớm lạnh. Có mùi hương lạ như hương hoa xoan, hoa cau đâu đây.

Những năm sau này, tình hình kinh tế khá hơn, nhân dịp Ngày Nhà giáo, các trường Sư phạm mỗi năm tặng các thầy cô một bộ quần áo. Các thầy thì may comple. Hổi ấy mốt nhất là may bằng vải sẹc Đức màu ghi đá. Các cô thì bộ áo dài quần trắng. Màu sắc và loại vải lụa nào tùy chọn. Vì thế, trong Lễ kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam, thầy cô nào cũng xúng xính. Phần lớn các cô bắt đầu uốn tóc. Có cô giáo đã bắt đầu đánh son phấn trang điểm khi đến trường, “lúng liếng là lúng liếng ơi!”. Sức sống trong các trường Sư phạm có khí thế dần lên.

Vâng đúng vậy. Bây giờ mọi chuyện khác xa rồi. Đa số các thầy, các cô ở Xóm giáo lúc đó, giờ đã về hưu. Người còn làm việc, phần nhiều đang giữ một trọng trách nào đó.

Khúc Trì giờ đã thành một khu phố nhỏ. Nhà xây thành cao tầng, có nhà kiểu biệt thự. Đường bê tông bàn cờ sạch bong. Tối tối, điện sáng trưng, tiếng nhạc dìu dịu. Hễ tết nhất hay có cưới cheo giỗ chạp, ôtô, xe máy đậu san sát.

 Chỉ có một điều vẫn như xưa, là các hộ không có tiếng cãi nhau bao giờ. Và đêm đêm, vẫn nghe tiếng chổi tre quét rác xoàn xoạt, trên con đường trục của Xóm giáo. Xưa là tiếng chổi của thầy Đoan, nay là tiếng chổi của thầy Bồng.

Vẫn nhớ những tối trăng suông, thầy Bản kể: “Người dạy học thế mà thâm… Một hôm, thầy đồ nọ gặp tay trọc phú trên đê làng. Trọc phú nhanh miệng: “Trông ông xa không rõ, tôi cứ tưởng con khỉ”. Thầy đồ thủng thẳng: “mắt tôi cũng kém, thấy ông, tôi cứ tưởng là người!”. Đau chưa?

Chả cứ thầy đồ xưa. Hôm qua, ở đám cưới con ông giáo Hanh, một anh dáng bệ vệ đến chỗ thầy Dự, đưa một bàn tay múp míp ra bắt và nói bô bô: “Hình như ngày trước tôi có học anh”. “Xin lỗi, có lẽ anh nhầm”, thầy Dự nói: “Tôi không dạy được học trò nào như anh cả!”. Còn hơn cả cái bạt tai!

Vâng, như đã nói, đây là những mẩu chuyện kể lại để người cùng thời bồi hồi. Và người lớp sau, nếu quan tâm, có thể nghĩ rằng những bông hoa đẹp trên cành cao kia bắt đầu từ những gốc rễ xù xì, luôn bám sâu vào đất.

2014 – 2019

Đ.T.M

KÝ ỨC VỀ MÁI TRƯỜNG


Tôi là học sinh (giáo sinh) khóa đầu (1960 – 1962) của trường Trung cấp Sư phạm Kiến An, trường lúc đó ở nơi mà trường Đại học Hải Phòng tọa lạc hiện nay. Mặt bằng trường ngày ấy khoảng hơn 1 ha, ở giữa là hội trường (vị trí hội trường khu A hiện nay), hai bên là 2 dãy nhà hai tầng, phía sau giáp Khúc Trì là dãy nhà cấp 4. Phần diện tích còn lại là cỏ mọc với một số vũng nước sâu. Cửa vào cổng khu A hiện nay là một cái ao. Lao động hàng tuần và hè của chúng tôi là xe đất núi từ Tây Sơn về san lấp mặt bằng. Trường còn tổ chức cấy lúa, trồng khoai lang ở sân bay Kiến An. Anh bạn tôi: Vũ Quát (hiện nay đang ở Nha Trang) được phân công mấy tháng hè ăn, ở hẳn trong sân bay Kiến An để quản lý đội trâu gần chục con (mượn của một số hợp tác xã nông nghiệp). Trâu dùng để cày, bừa đất sân bay, cấy lúa, trồng khoai. Vụ thu hoạch khoai lang, mỗi giáo sinh được chia hàng chục cân khoai, mang về đổ đầy gầm giường tại các nhà trọ ở Khúc Trì. Chúng tôi thường luộc khoai để dành đến khi học xong, trước khi đi ngủ mới ăn cho đỡ đói, dễ ngủ hơn. Ăn uống sinh hoạt lúc bấy giờ cũng kham khổ lắm. Nhưng cảm nhận của chúng tôi hình như những điều đó cũng không quan trọng lắm (tuổi trẻ mà), chúng tôi vẫn tổ chức các sinh hoạt văn thể rất vui, học tập vẫn tốt.

Ra trường, tôi được phân công về Tiên Lãng (quê tôi) dạy học, sau đó đi học ở Liên Xô. Năm 1975 về nước, tôi được phân công về trường, lúc đó gọi là Trường Sư phạm 10+3 Hải Phòng (sau 13 năm tôi ra trường). Tôi lên phòng Hiệu trưởng đúng lúc bác Vũ Ngọc Lâm đang bàn giao công tác Hiệu trưởng cho bác Nguyễn Trọng Lô trong một phòng rộng khoảng 12m2 với cái giường một, cái bàn, trên xếp đầy tài liệu bàn giao. Bác Lô mời tôi ngồi và thân mật nói: “Cậu về, tốt rồi, trường đang khó khăn lắm, chúng ta cùng khắc phục”. Đúng là nhà trường lúc đó đang khó khăn thật: Ngoài những nhà như hồi chúng tôi đang học, được làm thêm một số nhà tranh, tre, nứa, lá. Tôi được phân ở cùng phòng với một giáo viên tại dãy nhà (nay là khu để xe cổng A) được làm ra với đầy đủ các vật liệu tranh, tre, nứa, lá: Mái lợp lá cọ, vách ngăn giữa các phòng bằng tre, nứa, có cót áp ngoài. Những người ở hai phòng kề nhau muốn nói chuyện nhỏ cũng thật dễ dàng, cứ nằm (ngồi) ở giường mình, chỉ cần khoét một lỗ cót nhỏ là có thể nói chuyện với nhau thoải mái mà không ảnh hưởng đến ai cả. Chúng tôi không có bàn ghế để làm việc, phải ngồi ở giường kê lên vali hoặc hòm đựng đồ để soạn giáo án.

Từ năm 1975 – 1976 trở đi, quy mô tuyển sinh mỗi năm của trường đều tăng (do giáo viên Hải Phòng phải điều vào miền Nam dạy nhiều và phải đào tạo giáo viên cho Quảng Ninh). Tôi nhớ một đồng chí lãnh đạo thành phố sang giao nhiệm vụ cho trường: phải thực hiện nghiêm lệnh tuyển sinh (đủ chỉ tiêu) như tuyển quân. Trên mặt bằng hơn 1 ha, cả thầy và trò có lúc tới vài nghìn người. Ăn ở thiếu thốn với cả thầy và trò. Nhưng giảng dạy, học tập đều rất tốt, sinh hoạt văn thể đều sôi nổi, vui vẻ. Thời đó trường ta là điển hình xuất sắc của Quân khu Ba về nền nếp quân sự học đường. Lại còn có khẩu hiệu để phấn đấu là “nhà trường đẹp như công viên, sạch như bệnh viện, kỷ luật như quân đội”. Khó khăn thiếu thốn là vậy, nhưng lứa giáo sinh ra trường hồi ấy công tác rất tốt, nhiều em trưởng thành nhanh, trở thành cán bộ quản lý của ngành, của các cơ quan Đảng, chính quyền thành phố và các quận, huyện.

Nhưng vào đầu những năm 80 (của thế kỷ trước) lại xuất hiện tình trạng thừa giáo viên, chỉ tiêu tuyển sinh bắt đầu giảm sút, sinh viên của nhà trường ít đi, giáo viên không có, hoặc ít giờ dạy. Hàng loạt giáo viên lại xin đi hoặc phải điều đi khỏi trường. Năm 1984, tôi và anh Nguyễn Văn Vỵ được bổ nhiệm làm Hiệu phó là thời kỳ nhà trường bắt đầu khó khăn. Nhưng có lẽ năm 1994, tôi được đề bạt làm Hiệu trưởng là thời kỳ khó khăn nhất của trường ta: cán bộ giáo viên chỉ còn hơn 80 người (kể cả một số chờ nghỉ hưu), sinh viên chỉ còn vài trăm, cơ sở vật chất xuống cấp nghiêm trọng. Nhưng cũng chính năm đó nhu cầu giáo viên lại tăng, không chỉ tăng số lượng mà còn tăng cả loại hình. Năm học 1994 – 1995, năm học đầu tiên tôi làm Hiệu trưởng, nhà trường tuyển sinh tới 3 kỳ: kỳ tuyển theo kế hoạch, sau tuyển sinh ngoại ngữ (trước đó thành phố giao cho Trung tâm Ngoại ngữ Hải Phòng), kỳ thứ ba là tuyển sinh Cao đẳng Sư phạm thể dục. Số lượng sinh viên nhà trường tăng đột biến, gấp ba, bốn lần năm học trước. Thành phố, Sở Giáo dục và Đào tạo động viên và hứa với nhà trường sẽ tạo điều kiện tối đa. Thế rồi một số giáo viên cũ của trường trước kia ra đi, nay lại trở về trường. Một số giáo viên phổ thông, sinh viên mới ra trường tiếp tục về trường công tác, trong thời gian ngắn, giáo viên, cán bộ của trường cũng tăng gấp ba, bốn lần so với trước năm 1994. Số lượng cán bộ, giáo viên, sinh viên tăng lên, diện tích nhà trường hạn hẹp, cơ sở vật chất thiếu thốn là vấn đề lớn được đặt ra.

Tôi còn nhớ lần đầu tiên tôi đi họp với cương vị Hiệu trưởng ở Bộ Giáo dục và Đào tạo (Hà Nội), tôi gặp anh Phạm Văn Hiến – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Tháp (anh Hiến nguyên là Phó phòng Giáo vụ của trường ta) ôm một đống hồ sơ.

Tôi hỏi, anh Hiến bảo hồ sơ xin xây một kí túc xá, một nhà học. Tôi vội hỏi: “Xin đâu? Xin ai vậy?” Anh Hiến hài hước ghé sát tai tôi nói “Cha Nhĩ”. Thì ra là ông Trần Xuân Nhĩ – Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chủ nhiệm chương trình Bốn (chương trình bồi dưỡng giáo viên và xây dựng cơ sở vật chất cho các Trường Cao đẳng Sư phạm). Giờ giải lao của Hội nghị, tôi tìm gặp Thứ trưởng Trần Xuân Nhĩ. Ông vui vẻ nói: “Mình cũng đang chờ Cao đẳng Sư phạm Hải Phòng đây”. Ông Nhĩ sẵn có thiện cảm với Hải Phòng: Vợ ông học trường Ngô Quyền, Hải Phòng, học trò của ông là chị Bùi Thị Sinh đang làm Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng. Vận may được cộng thêm, cũng trong Hội nghị ấy, tôi gặp Giáo sư Hoàng Huy Thắng – Viện trưởng Viện Thiết kế trường học Bộ Giáo dục và Đào tạo. Vợ chồng giáo sư Hoàng Huy Thắng là những người quen biết với tôi từ thời Ki Ép (Liên Xô) sinh hoạt trong cùng một chi bộ, họ là nghiên cứu sinh, tôi là sinh viên. Tôi mời Thứ trưởng và Viện trưởng về thăm trường. Chưa đến một tuần sau, đoàn Bộ Giáo dục và Đào tạo đã về trường ta làm việc.

Tôi còn nhớ, khi mới xuống xe, Thứ trưởng đã chăm chú quan sát trường và hỏi: “Có vị trí nào cao quan sát được những vị trí xung quanh trường”. Tôi đã đưa ông lên tầng 2 nhà đối diện với nhà đa năng bây giờ. Ngay buổi làm việc đầu tiên, Bộ đã quyết định xây dựng cho Trường Cao đẳng Sư phạm Hải Phòng nhà Ký túc xá 4 tầng, nhà tập đa năng và đề nghị Hải Phòng xây dựng quy hoạch cho trường Cao đẳng Sư phạm và Đại học Sư phạm Hải Phòng sau này. Thứ trưởng Trần Xuân Nhĩ cũng yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố và Bộ ký thỏa thuận cùng đầu tư cho trường. Sau đó, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng Đỗ Gia Phách và Thứ trưởng Trần Xuân Nhĩ đã ký văn bản thỏa thuận đó. Thứ trưởng Trần Xuân Nhĩ đã đem quy hoạch 24 ha (sau này tăng lên 32 ha) của Trường Cao đẳng Sư phạm Hải Phòng và văn bản ký thỏa thuận cùng đầu tư cho trường của Bộ và Hải Phòng làm mẫu, kêu gọi các địa phương, các trường Cao đẳng Sư phạm trong nước làm theo, tạo nên một “hiện tượng Cao đẳng Sư phạm Hải Phòng” trong cộng đồng Cao đẳng Sư phạm của nước ta lúc bấy giờ. Cho đến lúc tôi nghỉ hưu đã có 10 công trình được xây dựng (và đang xây dựng) bằng vốn đầu tư của chương trình Bốn.

Đến năm 1997, hai trường: Cao đẳng Sư phạm và Trung cấp Sư phạm sáp nhập thành Trường Cao đẳng Sư phạm đa cấp, đa hệ Hải Phòng. Tôi làm Hiệu trưởng, Hiệu phó có các đồng chí: Lê Quốc Băng, Nguyễn Viết Cương, Phạm Trung Tặng, Phí Thị Hiền. Những nỗi lo về vấn đề nội bộ sau sáp nhập qua đi rất nhanh. Đảng ủy, Ban giám hiệu và tập thể nhà trường với hơn 300 cán bộ giáo viên đoàn kết cùng chung lo cho nhiệm vụ xây dựng đội ngũ, cơ sở vật chất để đủ sức đảm đương cho sứ mệnh cao hơn khi trở thành Trường Đại học Hải Phòng. Chỉ một thời gian ngắn, Trường Cao đẳng Sư phạm đa cấp, đa hệ Hải Phòng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đặt ra cùng với một số cơ sở giáo dục Hải Phòng thành lập Trường Đại học Sư phạm Hải Phòng.

Ngày 20/4/2000, Trường Đại học Sư phạm Hải Phòng được thành lập. Ban Giám hiệu có tôi (Hiệu trưởng), các đồng chí Hiệu phó: Lê Quốc Băng, Đỗ Trọng Hùng, Khoa Năng Chính, Nguyễn Duy Tráng và Hoàng Văn Sánh (sau mấy tháng chuyển sang làm Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng).

Đảng ủy, Ban giám hiệu cùng gần 500 cán bộ giảng viên của Trường Đại học Sư phạm Hải Phòng đã nhanh chóng hòa nhập, đoàn kết cùng nhau xây dựng nhà trường với khẩu hiệu: “Ổn định và phát triển ngay từ học kỳ đầu tiên”. Chúng ta đã làm được điều đó. Thời gian tuy ngắn (chỉ hơn 3 năm) ở Trường Đại học Sư phạm

Hải Phòng nhưng đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc về tình đồng chí, đồng nghiệp, đồng lòng cùng nhau vượt qua những khó khăn của thời kỳ ban đầu. Đúng 30 năm công tác tại trường (1975 – 2005), phần lớn cuộc đời học tập và công tác của tôi đã gắn bó với mái trường này. Tôi đã nghỉ công tác Hiệu trưởng hơn 10 năm và nghỉ hưu gần 10 năm (từ 01/01/2005) nhưng mỗi lần trở lại trường, tôi đều có cảm giác thân quen, gần gũi, ấm áp và vui mừng khi thấy trường ta ngày càng khang trang hiện đại, mừng vui khi được gặp các đồng chí, đồng nghiệp một thời cùng công tác ở trường với tôi, mừng vui khi thấy một số cán bộ giáo viên trẻ về trường sau khi tôi đã nghỉ hưu, nhưng biết tôi, cũng đều vui vẻ, quý mến. Đó là những điều làm tôi thực sự vui mừng và xúc động.

Là người đã nghỉ hưu, từ đáy lòng mình, tôi luôn mong muốn trường ta không ngừng phát triển, phát triển theo chiều sâu, tạo ra sự đột phá về nâng cao chất lượng đội ngũ, để nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng “Kỳ vọng của Đảng bộ và nhân dân Hải Phòng”, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho khu vực và phát triển ngành Đại học của nước nhà.

NSƯT. TS. NGÔ ĐĂNG DUYÊN

Nguyên Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trưởng ĐHSP Hải Phòng

ĐIỀU KHÔNG BAO GIỜ TA MUỐN




Chia tay nhé

Ôi mái trường thân thuộc xưa nay

Nơi ta công tác hăng say

Phải gác bút đó là điều không bao giờ ta muốn

Chia tay nhé

Ôi những người đồng chí

Đã cùng ta chung sống tháng năm ròng

Lúc mừng vui, lúc gian truân vất vả

Cùng bạn bè, ta gồng mình rồi vượt qua tất cả

Nay phải xa rồi, đó là điều không bao giờ ta muốn

Chia tay nhé

Ôi lớp học thân quen,

chiếc bảng đen, bộ bàn ghế thân quen

Những vật vô tri sống với ta lâu, cũng trở thành tri kỉ

Nay phải xa rồi, đó là điều không bao giờ ta muốn

Chia tay nhé,

                 Hội cơm trưa, cơm hộp

Bữa đến rồi đây, mỗi suất ăn nằm trong chiếc hộp

Có vậy thôi, sao ai ăn cũng khen ngon miệng?

Bởi trong cơm có tình cảm anh em và tình đồng đội

Nay phải xa rồi, đó là điều không bao giờ ta muốn

Chia tay nhé, xin chào tất cả

Để về hưu, đó là điều không bao giờ ta muốn.

Hải Phòng, tháng 2 năm 2011

BÙI VĂN KHUỂ

Nguyên Chủ tịch Công đoàn Trường ĐH Hải Phòng

KẾT NẠP ĐẢNG GIỮA MÙA HOA PHƯỢNG


Tặng T.T.T

Tháng sáu hoa phượng như màu cờ

Lòng rạo rực bồi hồi anh nhớ

Ngày em được đứng trong đội ngũ

Ngày em trở thành đảng viên

Ngay tự phút buổi đầu mới gặp em

Anh đã rất tin: Em sẽ là “người Đảng”

Cô giáo dạy Văn có đôi mắt sáng

Chân thật hồn nhiên anh càng thấy yêu thêm

Có những lần em thức thâu đêm

Miệt mài bên trang giáo án

Yêu cuộc đời, em hiểu thêm tác phẩm

Khao khát truyền niềm tin cho đàn em

Không chỉ dạy Văn, em luyện những tâm hồn

Theo truyền thống cha ông rạng ngời trang sử

Biết dũng cảm hy sinh vượt qua bao gian khổ

Để mỗi ngày cuộc sống đáng yêu hơn

Không chỉ bằng lời giảng văn chương

Em sống thực bằng việc làm, suy nghĩ

Trên bục giảng, em là chiến sĩ

Trong đời thường là người vợ đảm đang

Đồng nghiệp tin em – cô giáo vững vàng

Học trò mến yêu – người chị hiền, người mẹ

Đảng đón em, bàn tay Người rộng mở

Như đón một người con!

Tháng sáu này hoa phượng đỏ tươi hơn

Đất nước đẹp biết bao, rộn ràng cuộc sống

Thành phố, làng thôn trào dâng sức trẻ

Anh nhớ ngày em tuyên thệ trước Đảng kỳ.

Hải Phòng, tháng 6/1987 – 6/2014

ĐÀO NGỌC ĐỆ

Nguyên giảng viên Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hải Phòng